Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Thủy điện Sơn La làm lợi 1 tỉ USD nhờ về đích sớm


Thủy điện Sơn La về đích sớm hơn gần 3 năm đã làm lợi cho đất nước trên 1 tỉ USD, cái được nhờ tiến độ thần tốc này không chỉ là tài chính.

Thủy điện Sơn La, công trình trọng điểm quốc gia, là bậc thang thứ hai trên dòng chính sông Đà (trên là thủy điện Lai Châu, dưới là thủy điện Hòa Bình), với công suất lắp đặt 2.400 MW (gồm 6 tổ máy, mỗi tổ máy 400 MW), có công trình chính đặt tại tuyến Pa Vinh thuộc địa phận xã Ít Ong, H.Mường La, Sơn La. Hồ chứa nước thuộc một số xã, huyện của tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu.

Thủy điện Sơn La làm lợi 1 tỉ USD nhờ về đích sớm 1
Nhà máy thủy điện Sơn La về sớm hơn 3 năm (trong ảnh là thời điểm hòa lưới tổ máy số 6, tổ máy cuối cùng hôm 26.9) – Ảnh: Thành Long

Nhiệm vụ chính của dự án là cung cấp điện lên hệ thống điện quốc gia với sản lượng điện trung bình hằng năm là 10,2 tỉ kWh; chống lũ về mùa mưa, cung cấp nước về mùa khô cho đồng bằng Bắc bộ và góp phần phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Bắc.

Dự án được khởi công vào năm 2005. Tổ máy đầu tiên hòa lưới thành công vào ngày 17.12.2010. Tiếp đó lần lượt các tổ máy số 2, 3, 4 đã được đưa vào vận hành an toàn trong năm 2011. Đến nay, 6 tổ máy của nhà máy đã đi vào sản xuất ổn định, an toàn. Sản lượng điện toàn nhà máy đạt hơn 12 tỉ kWh. Riêng tổ máy 6 cũng cán đích trước 3 tháng, hòa lưới vào ngày 26.9, so với mục tiêu ban đầu là cuối năm nay.

Ông Phạm Hồng Hà – Trưởng Ban quản lý dự án thủy điện Sơn La – Lai Châu, tính toán, chỉ riêng việc phát điện toàn bộ 6 tổ máy trước mục tiêu do Quốc hội đề ra 3 năm đã làm lợi cho đất nước khoảng 20.000 tỉ đồng.

Tính cho đến thời điểm này thì thủy điện Sơn La là công trình điện đầu tiên của cả nước vượt tiến độ. Có được điều đó, phải kể đến sự đầu tư nguồn lực của cả hệ thống chính trị, trong đó có việc ưu tiên vốn. Nhưng hơn cả vẫn là nhờ một đội ngũ nhân lực hùng hậu, trong đó có những người thợ lắp máy Liama có đủ trình độ kỹ thuật, giàu kinh nghiệm và tâm huyết đã làm chủ những cỗ máy chính – quyết định nên sự thành công này.

Ông Nguyễn Thế Trinh, chỉ huy thi công lắp máy công trình nhà máy thủy điện Sơn La, Công ty cổ phần Lilama 10, cho biết, vì mục tiêu phát điện tổ máy 6, hơn 500 cán bộ, kỹ sư công nhân kỹ thuật đã làm việc ngày đêm trên công trường trong nhiều tháng qua. Hàng trăm sáng kiến cải tiến kỹ thuật, sáng tạo trong lắp đặt thiết bị công nghệ cao đã được áp dụng, vận hành thành công.

Trực tiếp tư vấn, kiểm tra và thẩm định chất lượng công trình, ông Bùi Thắc Khiết, thành viên hội đồng nghiệm thu công trình thủy điện Sơn La khẳng định, ngoài những cái được kể trên, còn rất nhiều những cái được đáng ghi nhận ở công trình này. Ví như việc góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa của ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam khi sử dụng thiết bị thủy công, cẩu trục lớn. Thủy điện Sơn La còn là nơi đào tạo đội ngũ nhân lực cơ khí, lắp máy và vận hành các công trình điện.

Ông Bùi Thắc Khiết phân tích: "6 tổ máy là 2.400 MW - là rất lớn nên ý nghĩa trước tiên là đảm bảo an toàn cung cấp điện cho hệ thống, thứ 2 là giá thành của thủy điện là rất rẻ, nên góp phần làm cho giá thành điện rẻ hơn. Thứ 3 nữa là thủy điện có tính cơ động rất cao, có thể đóng rất nhanh, giúp cho việc điều độ hệ thống tốt hơn…".

Thủy điện Sơn La đã hoàn thành vượt tiến độ, nhiều bài học kinh nghiệm quý giá đã và đang được đúc kết để áp dụng vào thủy điện Lai Châu, dự án thủy điện lớn cuối cùng trên dòng chính Sông Đà. Những cán bộ từng quản lý dự án thủy điện Sơn La nay lại tiếp tục đi thêm hơn 200 km vào xây dựng thủy điện Lai Châu để từ nơi cuối trời Tây Bắc, dòng điện sẽ lan tỏa phục vụ cho sự phát triển của đất nước.

Thủy điện Sơn La làm lợi 1 tỉ USD nhờ về đích sớm 3
Đào hố móng nhà máy năm 2007 – Ảnh: Điêu Chính Tới

Thủy điện Sơn La làm lợi 1 tỉ USD nhờ về đích sớm 4
Mẻ bê tông đầm lăn đầu tiên tại Sơn La tháng 7.2007 – Ảnh: Điêu Chính Tới

Thủy điện Sơn La làm lợi 1 tỉ USD nhờ về đích sớm 5
Đêm trên công trường, nhờ thi công thần tốc mà nhà máy đã về trước hạn 3 năm – Ảnh: Điêu Chính Tới

Thủy điện Sơn La làm lợi 1 tỉ USD nhờ về đích sớm 6
Lắp đặt tổ máy 6, tổ máy cuối cùng của thủy điện Sơn La tháng 7.2012 – Ảnh: Điêu Chính Tới

Thủy điện Sơn La làm lợi 1 tỉ USD nhờ về đích sớm 7
Toàn cảnh đại công trường – Ảnh: Điêu Chính Tới

Nguyễn Linh



Sơn La: Tổ chức kết nghĩa "điểm" bản


Xem tin gốc 

Báo Biên phòng
- 4 giờ trước
4 lượt xem

Ngày 8-1, thực hiện chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP Sơn La đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La (Việt Nam) và huyện Xiềng Khọ, tỉnh Hủa Phăn (Lào) tổ chức Lễ kết nghĩa giữa bản Lao Khô I, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu (Việt Nam) với bản Na Khạng – Cụm Phiêng Sa – huyện Xiềng Khọ- tỉnh Hủa Phăn (Lào). Đây là lễ ký kết điểm tạo cơ sở rút kinh nghiệm để nhân rộng triển khai trên địa bàn toàn tuyến biên giới của tỉnh trong năm 2013.

Tại buổi lễ, hai bản đã tổ chức ký kết 6 nội dung tập trung chủ yếu vào các hoạt động: gíao dục tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của công dân về ý thức quốc gia, quốc giới cũng như vận động nhân dân hai bản chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước (của hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam – Lào); xây dựng phong trào quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự thôn bản và phối hợp với các cơ quan, lực lượng chức năng ngăn chặn các hoạt động lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo để chống phá đường lối, chính sách, tình đoàn kết hữu nghị của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước.

Hai bên sẽ phối hợp giải quyết tốt ngay từ cơ sở các vấn đề xâm canh, xâm cư, tranh chấp đất sản xuất, bãi chăn thả gia súc, chôn cất mồ mả, săn bắn, khai thác lâm thổ sản giữa hai bên biên giới; giúp nhau phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân hai bên biên giới; kịp thời giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn trong phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai; tổ chức các hoạt động đối ngoại biên phòng, đối ngoại nhân dân, mở rộng cả về hình thức và nội dung; thường xuyên tổ chức thăm hỏi, giao lưu văn hóa, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc hai bên biên giới.

Tỉnh Sơn La có 250km đường biên giới tiếp giáp với hai tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng của nước (Lào), do vậy việc tổ chức kết nghĩa bản – bản hai bên biên giới là một việc làm quan trọng, thiết thực, nhằm tăng cường củng cố mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào trên khu vực biên giới và cũng là cách để bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới hữu hiệu nhất.

Khánh Ngọc- Hoàng Giáp



Sơn La: Phát triển nghề và làng nghề truyền thống gắn với du lịch


Du lịch làng nghề, du khách không chỉ ngắm nhìn khung cảnh làng quê thanh bình mà còn được tham quan nơi sản xuất, thậm chí có thể cùng tham gia quá trình tạo ra sản phẩm.

Đối với Sơn La, ngành nghề truyền thống ở khu vực nông thôn đã có từ lâu đời như: nghề dệt thổ cẩm, mây tre đan, rèn, gốm, trồng lanh dệt vải, chế biến thịt khô, chuối khô, long nhãn… Hiện nay, còn phát triển thêm chế biến nông- lâm sản (chè búp khô; bún, bánh; chế biến gỗ…); sản xuất vật liệu xây dựng (gạch nung). Các sản phẩm của ngành nghề như: ghế mây, mâm mây, ếp khẩu, noong, nia, lu cở; vải, quần áo thổ cẩm, vỏ chăn, gối, đệm, mũ, khăn piêu, túi thổ cẩm, ví thổ cẩm… đã được trưng bày, giới thiệu và bán làm đồ lưu niệm và gia dụng tại các điểm du lịch. Tuy nhiên, những tiềm năng này vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả, còn thiếu các nguồn lực cho quá trình phát triển. Việc dự báo thông tin thị trường trong nước, trên thế giới đối với các ngành hàng tiềm năng để nắm bắt và phát huy hiệu quả cơ hội thị trường còn gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, Sơn La chưa có làng nghề nào đạt được các tiêu chí theo Nghị định 66/2006-NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn.

 

Xuất phát từ thực tế đó, thời gian qua, ngành Nông nghiệp PTNT đã chỉ đạo triển khai một số quy hoạch về phát triển nông – lâm nghiệp như: quy hoạch lại 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) trên địa bàn tỉnh; quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh giai đoạn 2009-2020; quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến năm 2020; rà soát, bổ sung quy hoạch vùng nguyên liệu mía, đường, cà phê tập trung; quy hoạch bãi cá đẻ, bãi sinh vật thủy sản còn non thuộc hồ chứa thủy điện Hòa Bình… Hiện nay đang triển khai quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu mây, tre, bông vải; quy hoạch vùng phát triển cây cao su, phát triển bò sữa, cá nước lạnh. Quan điểm xuyên suốt của các quy hoạch đó là gắn phát triển kinh tế nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện. Phát triển nông nghiệp nông thôn phải đi đôi với việc giữ vững chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. Đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao để nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập, phù hợp với kinh tế thị trường. Phát triển nông nghiệp nông thôn toàn diện trên cơ sở phát huy ưu thế của từng vùng, từng địa bàn gắn với sản xuất nông- lâm nghiệp tập trung chuyên canh và công nghiệp chế biến. Ứng dụng tiến bộ KHKT công nghệ tiên tiến mới vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường, tiến tới xây dựng thương hiệu, đáp ứng thị trường trong và ngoài nước.

 

 Về phát triển nghề và làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch trên cơ sở sử dụng lao động tại chỗ, gắn sản xuất nông nghiệp, dịch vụ với với việc hình thành và xây dựng các cụm tổ chức dịch vụ, làng nghề. Thành lập các trung tâm thương mại, các chợ đầu mối ở nông thôn, tạo môi trường thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm ở thị trường trong nước và xuất khẩu. Đồng thời, hình thành các khu cụm công nghiệp, du lịch và đô thị mới ở các huyện, thành phố để các doanh nghiệp, HTX có mặt bằng sản xuất, thu gom các sản phẩm làng nghề, hoàn thiện các khâu của quy trình sản xuất, bảo quản theo yêu cầu của khách hàng. Du nhập nhanh các nghề mới vào nông thôn theo phương châm "Làng có nghề rồi phát triển thành làng nghề". Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề tiểu thủ công nghiệp, có chế độ đãi ngộ đội ngũ thợ lành nghề, nghệ nhân để có thể đảm đương khâu tạo mẫu, sản xuất những mặt hàng đòi hỏi độ tinh xảo, giá trị lớn. Quy hoạch làng nghề du lịch gắn với xây dựng thương hiệu tập thể và hệ thống sơ đồ, biển chỉ dẫn du lịch. Xây dựng nhà trưng bày sản phẩm tại làng nghề, trong đó có nơi thảo luận ký kết hợp đồng giữa các doanh nghiệp và xúc tiến thương mại. Đồng thời, có chỗ trình diễn sản xuất, chế tác sản phẩm của nghệ nhân làng nghề và là nơi du khách được trực tiếp tham gia tạo sản phẩm.

 

Những giải pháp trên được tiến hành đồng bộ và tích cực cùng với sự quan tâm đầu tư của các cấp, các ngành, nghề và làng nghề truyền thống sẽ trở thành điểm nhấn của du lịch Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng./.



Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Đổ xô đi đào đãi vàng trong rét đậm ở Sơn La



Vì lợi nhuận từ vàng cao nên nhiều năm nay hàng trăm người đân ở xã Pi Toong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, người dân lợi dụng diện tích đất canh tác, đất ao, đất vườn, đất ven suối Toong… để đào đãi vàng sa khoáng.


Phần lớn những người tham gia làm vàng là phụ nữ và trẻ em.

Vào ngày cao điểm có tới hàng trăm người tham gia. Trong thời tiết rét đậm, nhiều người phải mặc áo đơn áo kép thì những người đào vàng lại ăn mặc rất phong phanh.


Cần mẫn, cặm cụi tìm vàng.

Thực trạng diễn ra đã lâu nhưng chính quyền lại chưa mạnh tay vào cuộc nên vẫn chưa xử lý triệt để. Nạn khai thác vàng tại xã Pi Toong tập trung ở một số bản như bản Cang, bản Phiêng, bản Ten, bản Chộc, bản Lứa Hua, bản Nà Phìa… Đã thành thông lệ sau mỗi mùa thu hoạch lúa, người dân lại đi đãi vàng trên các diện tích canh tác lúa, riêng đất ao, đất vườn, đất đồi, ven suối Toong, người dân làm vàng quanh năm.


Và niềm vui khi đãi được vàng.

Lượng vàng này trị giá từ 350 đến 400 ngàn đồng.

Trong số này có những em đang còn mặc áo hoc sinh.

Vì sức hút của vàng có người buộc cả con nhỏ vào người để đi làm vàng.

Em Tà Văn Bảo, 15 tuổi cúm rúm sưởi ấm vì rét.

Theo tìm hiểu, chúng tôi được biết mấy năm trở lại đây giá vàng lên cao nên hàng trăm người dân các bản đã đổ xô đi đào vàng để tìm lợi nhuận, thời điểm cao con số này lên tới hàng trăm người cùng với dàn máy móc thi nhau đào bới. Trung bình mỗi ngày người dân khai thác được từ 50 ngàn đồng đến 1,5 triệu/ngày, có người may mắn số tiền kiếm được hàng chục triệu. Đào vàng mang lại lợi nhuận cao nên nhiều hộ gia đình đã thuê cả máy xúc, máy sàng về đào đãi, không ít người ở nơi khác cũng tìm tới đây để thực hiện ước mơ làm giàu của mình.

Trong số những người này có không ít các em đang là học sinh cũng theo bố mẹ đi làm vàng. Đặc biệt, vì sức hút tìm vàng, một cháu bé mới sinh được chừng 5 tháng tuổi cũng được người mẹ buộc trên lưng để đi tìm vàng. Đứng trên quả đồi cạnh núi Mốc, chúng tôi phóng tầm mắt thì thấy nơi đây là những moong sâu hun hút, đất đá lổn nhổn, kênh dẫn nước về suối Toong nước đục ngầu, dòng người đi khai thác vàng kéo về ngày một đông…


Nhiều người còn đưa cả máy xúc vào đào bới.

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Văn Sáng, Bí thư Đảng ủy xã Pi Toong cho biết: "Việc người dân trong xã tranh thủ thời gian sau khi thu hoạch lúa xong để đào đãi vàng đã có hàng trăm năm này. Trước kia giá vàng còn thấp người dân ít đi làm, mấy năm gần đây giá vàng cao nên người dân tham gia nhiều. Xã có 18 bản, trong đó 7 bản có vàng nên ở các bản này có người dân làm vàng. Xã đã mạnh tay nhưng không triệt để được, bởi xử lý không thường xuyên, cái khó ở đây là tình người, họ đều là người dân trong xã, anh em đều quen biết nhau nên không thể "ra tay" xử phạt".

Thực trạng khai thác vàng trái phép ở xã Pi Toong không chỉ ảnh hưởng tới diện tích đất canh tác của nhân dân mà còn làm thay đổi hệ sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt, đe dọa đến tính mạng người mỗi khi khai thác.

Đình Minh

Theo Infonet



Sơn La, Hà Giang chống rét cho gia súc, gia cầm


*Sơn La: Tăng cường chống rét


Mặc dù mới bước vào vụ đông xuân 2012 – 2013, nhưng do rét đậm kéo dài, nguồn thức ăn khan hiếm, đã gây nhiều thiệt hại cho đàn gia súc của tỉnh Sơn La. Tại các xã vùng cao của các huyện Yên Châu, Bắc Yên đã có gần 40 con trâu, bò chết vì mắc bệnh tụ huyết trùng. Tỉnh Sơn La tăng cường công tác vận động bà con làm chuồng trại phòng chống rét, không thả rông gia súc. Tỉnh thành lập các đoàn kiểm tra công tác phòng chống đói, chống rét cho gia súc tại 11 huyện, thành phố; cử cán bộ khuyến nông đến các xã vùng cao, vùng trọng điểm rét hướng dẫn nhân dân che chắn chuồng trại, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp như rơm, thân, lá ngô và các sản phẩm tinh như ngô, sắn, cám gạo… làm thức ăn để tăng cường sức đề kháng và khả năng chống đỡ bệnh tật cho gia súc.

Chi cục Thú y tỉnh Sơn La cho biết, để chủ động phòng bệnh cho gia súc trong vụ đông xuân 2012 – 2013, Chi cục đã dự phòng 30.000 liều vắcxin tụ huyết trùng cho trâu, bò và 2.000 lít thuốc khử trùng sẵn sàng sử dụng khi có nguy cơ xảy ra dịch bệnh.

* Hà Giang: Đàn gia súc vẫn an toàn

Nhiệt độ tại các huyện vùng cao phía bắc và phía tây Hà Giang trong những ngày qua luôn ở mức từ 5 – 7 độ C, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự an toàn của đàn trâu, bò trên địa bàn. Tuy nhiên, đến thời điểm này, theo báo cáo từ các huyện, thành phố và kiểm tra cụ thể của đoàn công tác tỉnh, đàn gia súc của bà con vẫn an toàn.

Rút kinh nghiệm năm 2008 – 2009, đàn gia súc ở Hà Giang bị thiệt hại nặng do rét đậm, rét hại kéo dài, làm ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân, hơn 2 năm qua, công tác chống đói, rét cho đàn gia súc được Hà Giang quan tâm đặc biệt nên đã giảm thiểu đến mức thấp nhất việc trâu, bò bị chết trong mùa đông.

Ngay từ đầu năm, tỉnh đã chỉ đạo chính quyền các địa phương tuyên truyền, vận động và cử cán bộ khuyến nông trực tiếp hướng dẫn bà con nông dân làm chuồng trại kiên cố, đảm bảo thoáng về mùa hè, ấm về mùa đông; chuẩn bị một số phương tiện cần thiết để giữ ấm cho gia súc khi nhiệt độ xuống thấp. Các HTX hướng dẫn người chăn nuôi mở rộng diện tích trồng cỏ lai để làm thức ăn dự trữ cho trâu, bò; thu gom rơm rạ sau thu hoạch làm thức ăn khô… Cán bộ từ thôn, bản đến xã có nhiệm vụ kiểm tra chặt chẽ việc chăn thả trâu, bò trong những ngày rét đậm, rét hại; thông báo cho nhân dân không được chăn thả trâu, bò trong những ngày nhiệt độ ngoài trời xuống dưới 10 độ C; che chắn kín chuồng trại và gió cho gia súc bằng cách “làm áo” chống rét…

TTN



Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Những triệu phú trồng ngô trên đất Sơn La


KTNT- Những năm gần đây, nhiều nông dân trên các vùng trọng điểm ngô của Sơn La như Mai Sơn, Yên Châu, Bắc Yên… đã tích cực đẩy mạnh sản xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt là chuyển từ trồng giống ngô địa phương năng suất thấp sang trồng các giống ngô lai cao sản như DK8868, DK6919, LVN10… Nhờ trồng ngô lai mà nhiều người đã làm giàu.

Phất lên nhờ ngô

Lâu nay Sơn La vẫn được biết đến là "vựa" ngô của miền Bắc, sản lượng ngô hàng năm đạt trên 600.000 tấn, đi đến đâu cũng thấy bà con trồng ngô, đến xóm làng nào cũng thấy nông dân bàn chuyện trồng giống ngô gì, áp dụng tiến bộ kỹ thuật thế nào… để có vụ ngô bội thu. Vào mùa thu hoạch rộ, những bắp ngô lai chín vàng được bà con tới tấp chở về nhà, phơi khô rồi chất thành đống, hoặc treo lủng lẳng khắp trần nhà để chờ thương lái tới thu mua. Có thể nói, ngô đã trở thành cây trồng chính, giúp nhiều nông dân, trong đó có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thoát khỏi đói nghèo, vươn lên khá giàu.

Chị Quàng Thị Hôm, người Thái, ở bản Chặm Cảng, xã Chiềng Sung (huyện Mai Sơn) cho biết, Chiềng Sung là vùng đất gặp nhiều khó khăn về nguồn nước, vì vậy một năm bà con chỉ trồng được 1 vụ lúa, năng suất rất thấp. Được sự khuyến khích, hướng dẫn của cán bộ ngành nông nghiệp, bà con đã mạnh dạn chuyển sang trồng ngô. "Năm nào gia đình tôi cũng gieo dăm bảy kilôgam ngô giống, chủ yếu là giống ngô lai DK8868 do Công ty cổ phần Giống cây trồng miền Nam phân phối. Giống này cho năng suất cao, ổn định, hạt màu vàng, sáng đẹp nên dễ bán. Dần dần, nhà tôi cũng có của ăn của để. Khoảng 5 năm gần đây, nhà tôi vừa trồng ngô, vừa làm đại lý cung cấp hạt giống ngô cho bà con trong bản, riêng tháng vừa qua đã bán được trên 1 tấn ngô giống DK8868", chị Hôm kể.

Chị Hôm cho biết thêm, ở Chiềng Sung, nhiều gia đình đã xây được nhà mới, tậu được xe, trở thành triệu phú nhờ trồng ngô. Vụ thu hoạch tháng 9 – 10 năm vừa rồi, các giống ngô đều cho năng suất cao, nhất là giống DK8868, bắp nào cũng to, lõi nhỏ, hạt chắc, năng suất bình quân đạt 8 – 9 tấn/ha, đến nỗi có nhà tiếc vì không gieo toàn bộ diện tích giống ngô này. Vừa qua, nhiều hộ đã đến đăng ký mua tiếp giống DK8868, có nhà mua tới 40kg giống.

Anh Hoàng Văn Châu, chủ cửa hàng bán máy nông nghiệp, đồng thời cũng là đại lý cung cấp ngô giống ở thị trấn Nông trường Mộc Châu (huyện Mộc Châu) cho biết: "Vụ vừa qua, hầu hết các hộ mua ngô giống tại đại lý đều sản xuất thắng lợi, có hộ thu hoạch tới mấy chục tấn, với giá ngô hạt đang ở mức cao (hiện đạt 6.000 đồng/kg), bà con có thể thu về 6 triệu đồng/tấn (tương đương 48 – 54 triệu đồng/ha).

Cần hỗ trợ để phát triển bền vững

Tuy là vựa ngô lớn nhất cả nước, nhưng thực tế thấy, đầu ra cho cây ngô ở Sơn La vẫn chưa thực sự ổn định, chủ yếu là do thị trường có nhiều biến động, giá cả bất ổn, chi phí vận chuyển cao; nhiều nông dân vẫn sử dụng các giống ngô cũ năng suất thấp, chất lượng kém nên có lãi ít… Vì thế, để "vựa" ngô phát triển bền vững, rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước trong các khâu ổn định thị trường, vốn tín dụng, cải thiện hệ thống hạ tầng (chủ yếu là đường giao thông), đồng thời chú trọng nghiên cứu, lai tạo các giống ngô thế hệ mới cho năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt.

Anh Châu cho biết: "Với bộ giống ngô lai khá phong phú như hiện nay, bà con có nhiều lựa chọn cho việc gieo trồng, đơn cử như giống DK8868, do có khả năng trồng xen canh, chịu hạn và chống đổ tốt, chống chịu được thời tiết khắc nghiệt nên chúng tôi thường khuyến cáo bà con gieo trồng trên các vùng đất cao, không chủ động được nước tưới. Đây là giống dài ngày, năng suất cao, bộ rễ chân kiềng phát triển mạnh nên đặc biệt thích hợp với điều kiện đồng đất ở Sơn La. Ngoài ra, giống này còn có một ưu điểm nổi bật là có thể trồng với mật độ dày để tạo ra năng suất cao".

Theo đánh giá của bà con, giống ngô lai DK8868 thích nghi rộng trên chân ruộng 3 vụ trong năm, trên nhiều loại đất khác nhau như đồi núi, ruộng, chịu trồng dày nên tận dụng được đất, phân bón và giảm công lao động. Ngoài ra, đây cũng là một trong những giống ngô sạch bệnh nhất hiện nay với bộ lá "siêu" bền, có thể tận dụng làm thức ăn chăn nuôi.



Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Giải quốc tế của Busadco trở thành sự kiện khoa học 2012


Ngày 26/12, tại Hà Nội, Câu lạc bộ các nhà báo khoa học và công nghệ – Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Lễ công bố mười sự kiện khoa học và công nghệ nổi bật của Việt Nam năm 2012. 

Lễ công bố 10 sự kiện Khoa học công nghệ Việt Nam 2012.

Mười sự kiện này được gần 50 nhà báo chuyên viết về lĩnh vực khoa học và công nghệ bình chọn theo 5 lĩnh vực: Cơ chế chính sách; khoa học xã hội, nhân văn và tự nhiên; khoa học kỹ thuật và công nghệ; tôn vinh nhà khoa học; hợp tác quốc tế.

1. Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ
2. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020
3. Tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
4. 15 năm Internet có mặt tại Việt Nam
5. Khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng để Công trình thủy điện Sơn La về đích trước ba năm
6. Tiếp tục ghép thành công tế bào gốc cho người bệnh ung thư máu
7. Công ty Busadco đoạt Giải thưởng chất lượng quốc tế châu Á- Thái Bình Dương
8. Thuốc Cedemex phát huy hiệu quả trong hỗ trợ cắt cơn, cai nghiện ma túy
9. Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ
10. Khởi công Trung tâm vũ trụ Việt Nam

Sự kiện Công ty Thoát nước và Phát triển đô thị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BUSADCO) đoạt Giải thưởng Chất lượng quốc tế Châu Á – Thái Bình Dương được bình chọn là sự kiện thứ bảy (thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ) trong 10 sự kiện.

Công ty Thoát nước và Phát triển đô thị tỉnh BR-VT (BUSADCO) đã đoạt giải Nhì (Best in Class Award) thuộc Giải thưởng Chất lượng Quốc tế Châu Á – Thái Bình Dương (IAPQA) – giải thưởng Xuất sắc Toàn cầu năm 2012.

BUSADCO là doanh nghiệp duy nhất của Việt Nam đoạt giải trong lĩnh vực Dịch vụ lớn – loại hình Doanh nghiệp Dịch vụ và là mức thưởng cao nhất của Việt Nam năm 2012 trong khuôn khổ giải thưởng này.

Trước đó, BUSADCO đã xuất sắc đoạt giải Vàng – Giải thưởng Chất lượng Quốc gia năm 2011 và được Bộ Khoa học Công nghệ đề cử tham gia Giải thưởng Chất lượng Quốc tế Châu Á – Thái Bình Dương.

Cũng trong năm nay, BUSADCO đã đoạt giải Vàng ITEX 2012 tại Malaixia dành cho công trình: "Nghiên cứu ứng dụng Giếng thăm (hố ga) bê tông cốt thép thành mỏng đúc sẵn liên kết mối nối cống trong lĩnh vực hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và bảo vệ môi trường". Sản phẩm này trước đó đã đoạt giải vàng VIFOTEC 2011.

Các sản phẩm sáng tạo khoa học công nghệ Busadco đã được sử dụng rộng rãi 45/63 tỉnh thành trong cả nước, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng dân cư. Đặc biệt có 10 UBND tỉnh đã ban hành chủ trương áp dụng sản phẩm công nghệ Busadco trên địa bàn.

P.V.